Chào mừng quý vị đến với Website của Đinh Thị Bích Nga.
BDTX chu kỳ III môn Lịch sử
KHAI THÁC VỐN KIẾN THỨC ĐÃ CÓ CỦA HỌC SINH ĐỂ DẠY HỌC LỊCH SỬ
Vấn đề phát huy tính tích cực của HS đã được đặt ra trong ngành giáo dục nước ta nhiều năm nay. Có thể nói cốt lõi của vấn đề này là hướng tới hoạt động học tập chủ động của HS. Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học. Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong chiếm lĩnh kiến thức, đồng thời cũng muốn có cơ hội để thể hiện sự hiểu biết, truyền đạt những hiểu biết của mình tới bè bạn.
Khác với quan niệm trước đây, dạy học là quá trình truyền thụ của người thầy tới người học, trong dạy học ngày nay, GV không chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn để người học có cơ hội tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, mà còn phải biết cách khai thác vốn kiến thức đã có của HS, giúp các em xác lập mối quan hệ kiến thức đã biết và kiến thức mới. Làm như vậy chính là phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập.
1. Sự cần thiết phải tiến hành khai thác vốn kiến thưc sẵn có của HS để dạy học Lịch sử:
-Tạo cơ hội cho HS bộc lộ và trao đổi ý kiến, sự hiểu biết của mình với lớp. Qua đó, vốn kiến thức và năng lực hoạt động của HS sẽ được nâng lên.
-Kết hợp được kiến thức mới với kiến thức đã có của HS
-Khuyến khích các em tìm tòi, khám phá và tự chiếm lĩnh kiến thức mới trên cơ sở vốn kiến thức đã có của bản thân.
-Thử thách và tạo điều kiện cho HS chủ động trao đổi, xây dựng kiến thiết bài giảng phong phú, qua đó HS hứng thú hơn trong học tập.
-Khi khai thác vốn kiến thức sẵn có của HS giúp các em trở thành những thành viên tích cực, có trách nhiệm trong học tập, đồng thời đây cũng là cơ hội cho những HS thường e dè, nhút nhát trở nên hoạt bát hơn, mạnh dạn và tự tin hơn.
2.Để khai thác vốn kiến thức sẵn có của HS, cần sử dụng những phương pháp nào?
Quan niệm dạy học “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS” nêu rõ vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của GV trong quá trình nhận thức của HS, HS là nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học, được phát huy các năng lực, phẩm chất nhận thức để chiếm lĩnh kiến thức. Tất nhiên, việc nhận thức của HS trong quá trình học tập khác với việc nghiên cứu của các nhà khoa học. Các nhà khoa học phải tìm kiếm những kiến thức hoàn toàn mới, chưa được phát hiện, các em tiếp nhận những kiến thức mới nhưng đã được xác định, đã được phát hiện bởi các nhà khoa học. Việc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh được diễn ra trong một thời gian quy định và bao giờ cũng phải có sự hướng dẫn, giảng dạy của giáo viên.
Vận dụng nguyên tắc dạy học là dạy cho HS những cái chưa biết trên cơ sở những cái đã biết, nên việc khai thác kiến thức đã có của HS để dạy HS, chính là yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Khi dạy cho HS một kiến thức nào đó, GV cần biết các em đã biết những gì, biết đến đâu, biết nhiều hay ít về kiến thức đó. Qua đó giúp các em xác lập được mối quan hệ giữa điều các em đã biết với những điều các em cần biết. Quá trình lĩnh hội tri thức sẽ không chỉ do GV truyền thụ mà quan trọng hơn phải do chính các em tự tìm tòi khám phá, giải quyết, đó chính là dạy HS cách học. Có nhiều cách để làm được việc này, tuy nhiên cũng tùy thuộc vào nội dung của từng bài học cụ thể, tùy thuộc vào đối tượng HS và nếp học của các em để lựa chọn mức độ khai thác cho hợp lí, tránh trường hợp hình thức, không hiệu quả. Xin nêu một số phương pháp khai thác vốn kiến thức sẵn có của HS trong dạy học Lịch sử :
2.1. Đặt câu hỏi cho HS trả lời: Với cách này, câu hỏi đưa ra phải tạo cơ hội cho HS bộc lộ sự hiểu biết vốn có của mình, tránh trường hợp chỉ cần đọc bài học là trả lời được.
-Những câu hỏi mà GV đưa ra cần phải giúp HS tìm ra được những điều các em đã biết và phát triển thêm cho các em những ý mới nhằm tạo ra mối liên hệ giữa kiến thức đã có và những kiến thức cần phải có.
-Trong cuộc sống, khi người ta hỏi ai một điều gì, thường người hỏi chưa biết điều đó, hoặc biết một cách chưa rõ. Trong giờ học, GV hỏi cái mà GV đã biết, hỏi xem học sinh có những kiến thức gì liên quan đến kiến thức đã học, như vậy có nghĩa là hỏi để giúp HS tìm ra sợi dây liên hệ giữa cái các em đã biết đến cái các em sẽ biết.
-Khi chuẩn bị câu hỏi cần suy nghĩ cân nhắc một cách cụ thể, câu hỏi phải vừa sức với đối tượng, câu nào dành cho HS kém, câu nào dành cho HS giỏi. Câu hỏi cần giúp HS “lục tìm”, gợi nhớ những điều đã biết để từng bước tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết.
2.2.Tổ chức thảo luận nhóm:
Nhóm là một tập thể có ít nhất từ 2 người trở lên. Mỗi thành viên trong nhóm đều có yêu cầu được chia sẻ, được trao đổi về một vấn đề nào đó có liên quan đến bản thân và nhóm.
-Trong lớp, vốn kiến thức của mỗi HS tích lũy được không đồng nhất với nhau, do vậy hoạt động nhóm sẽ giúp cho từng HS được trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm, qua đó vốn hiểu biết của các em sẽ được tăng lên. Cũng qua hoạt động nhóm HS sẽ bù đắp cho nhau những kiến thức đã có ở từng em, từ chỗ còn tản mạn, rời rạc trở thành hệ thống hơn. Bằng việc đưa ra các câu hỏi, bài tập, phiều học tập cho cá nhân và nhóm trả lời, làm việc, GV sẽ tổ chức cho HS tự mình học những kiến thức cần phải đạt theo chuẩn và chương trình quy định.
2.3.Hướng dẫn HS khai thác kiến thức từ kênh hình:
Với cách viết SGK mới, kiến thức không chỉ nằm ở hệ thống kênh chữ mà nó còn biểu hiện ở hệ thống kênh hình, vì vậy hướng dẫn HS khai thác kiến thức từ kênh hình chính là cách khai thác vốn hiểu biết sẵn có của HS để các em tự nói lên những hiểu biết vốn có của mình. Làm được như vậy HS sẽ hiểu bài sâu và nhớ lâu kiến thức đã học.
Kênh hình bao gồm bản đồ, lược đồ, tranh ảnh lịch sử, là những phương tiện dạy học rất đặc trưng của bộ môn lịch sử, nó giúp cho học sinh tái hiện những sự kiện, nhân vật trong quá khứ. Theo xu hướng hiện nay là giảm bớt thuyết trình của GV, tạo điều kiện để HS học tập tích cực nên chúng được sử dụng như là một nguồn cung cấp kiến thức giúp HS tự tìm tòi, phát hiện những kiến thức và rèn luyện kĩ năng bộ môn chứ không chỉ để minh họa cho lời giảng của GV. Như vậy kênh hình là đối tượng để HS chủ động, tự lực để khai thác kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Muốn khai thác kênh hình có hiệu quả, cần thực hiện một số yêu cầu:
*Về phía GV:
-Nắm chắc nội dung chương trình.
-Xác định rõ kiến thức trong bài mà HS cần hiểu biết qua kênh hình.
-Chuẩn bị một số câu hỏi cho phù hợp với trình độ HS, gợi ý để các em biết tự giác khai thác kiến thức từ kênh hình.
-Kịp thời động viên, khuyến khích và đánh giá HS
*Về phía HS:
-Được rèn luyện một số kĩ năng khai thác kiến thức từ kênh hình.
-Hiểu được yêu cầu do GV đưa ra khi thực hiện khai thác kiến thức từ kênh hình.
-Tích cực chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức từ hệ thống kênh hình.
*Các bước khai thác kênh hình:
-Hướng dẫn HS tham gia một “chuyến du lịch” bằng cách giới thiệu sơ lược và hấp dẫn những hình ảnh trong hệ thống kênh hình.
-Nêu mục đích làm việc với kênh hình.
-Đưa ra những câu hỏi gợi ý để HS có cơ sở khai thác kiến thức từ kênh hình.
-Tổ chức cho HS trả lời câu hỏi trên cơ sở các em tự phát hiện kiến thức mới.
-Tạo cơ hội cho HS nhận xét, bổ sung trước khi đi đến kết luận
3. Vận dụng chuyên đề Khai thác kiến thức sẵn có của HS để dạy một bài học Lịch sử 9:
PHẦN HAI: LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NAY
CHƯƠNG I: VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1919-1930
BÀI 14: VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT .
A.MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1.Kiến thức:: Giúp HS nắm được những kiến thức cơ bản sau:
-Nguyên nhân, mục đích, đặc điểm và nội dung của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp.
-Những thủ đoạn thâm độc về chính trị, văn hóa, giáo dục của thực dân Pháp nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác.
-Tình hình phân hóa xã hội Việt Nam sau chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và thái độ chính trị, khả năng cách mạng của các giai cấp.
2.Tư tưởng: Giáo dục cho HS lòng căm thù đối với những chính sách bóc lột thâm độc, xảo quyệt của thực dân Pháp và sự đồng cảm với những vất vả, cơ cực của người lao động dưới chế độ thực dân phong kiến.
3.Kĩ năng: Rèn luyện cho HS kĩ năng quan sát lược đồ, tập phân tích, đánh giá sự kiện lịch sử.
B.Thiết bị, ĐDDH: -GV: Lược đồ Nguồn lợi của tư bản Pháp ở Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ hai. Tranh ba tầng áp bức bóc lột. Bảng thống kê chính sách khai thác bóc lột lần thứ nhất và biến đổi của xã hội Việt Nam.
-HS: sưu tầm tranh ảnh, tài liệu về chính sách cai trị của thực dân Pháp và cuộc sống của nhân dân lao động, nhất là công nhân, nông dân trong thời kì 1919-1930
* Đặc điểm của bài:
Chủ đề của bài học gắn liền với kiến thức về chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam (Lịch sử lớp 8) nên học sinh có hiểu biết cơ bản về nội dung, mục đích, hệ quả của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp tại Đông Dương nên có thể khai thác vốn kiến thức sẵn có của HS để dạy bài này như sau:
1.Đặt câu hỏi cho HS trả lời:
?Nguyên nhân và mục đích của chương trình khai thác lần thứ hai ?(?dành cho mọi đối tượng)
(Ở lớp 8, các em đã học về đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc về nhu cầu xâm lược thuộc địa, đã học về chiến tranh thế giới thứ nhất)
?Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp có tác động gì đến kinh tế nước ta?–Dành cho HS giỏi.
( Kiến thức đã biết: chương trình khai thác thuộc địa là nhằm vơ vét bóc lột thuộc địa. Nhiều nhà máy được xây dựng, giao thông mở rộng… là biểu hiện kinh tế phát triển
Kiến thức chưa biết: Phát triển kinh tế thuộc địa để làm giàu cho Pháp, kinh tế thuộc địa phát triển nhưng đất nước VN và con người Việt Nam bị cạn kiệt, đói nghèo, lệ thuộc)
?Sự phân hóa xã hội có ảnh hưởng gì đến phong trào cách mạng Việt nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất? Dành cho HS giỏi
(KT đã biết: công nhân, nông dân bị bóc lột nặng nề hơn, đói khổ hơn. Số lượng đông hơn.
KT chưa biết: chính chính sách của Pháp đã làm cho lực lượng cách mạng VN đông hơn, trưởng thành hơn, đấu tranh quyết liệt hơn.)
?Pháp vẫn sử dụng thủ đoạn gì về chính trị, văn hóa, giáo dục? (dành cho mọi đối tượng)
2.Có thể tổ chức cho HS thảo luận với các nội dung sau:
? So với với chương trình khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp em có nhận xét gì chương trình khai thác lần thứ hai ? (dành cho mọi đối tượng)
? Nêu sự phân hóa và thái độ chính trị của các giai cấp và tầng lớp xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
|
G/c, tầng lớp |
Thái độ chính trị |
|
1.G/c địa chủ phong kiến |
|
|
2. G/c tư sản |
|
|
3.Tầng lớp tiểu tư sản thành thị |
|
|
4.G/c nông dân: |
|
|
5.G/c công nhân: |
|
?Điền nội dung vào sơ đồ tư duy thể hiện nguyên nhân và hệ quả của sự phân hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất?

(1) CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN II TĂNG
(2)LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG ĐÔNG HƠN
3.Tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức từ kênh hình:
Để làm việc này, giáo viên chuẩn bị các biểu đồ thống kê so sánh các số liệu chính sách đầu tư nguồn vốn, số lượng g/c công nhân trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất để học sinh nhận biết được sự phát triển về quy mô và mức độ của chương trình khai thác lần 2. GV phải chuẩn bị lược đồ Nguồn lợi của tư bản Pháp ở VN trong cuộc khai thác lần hai để HS tìm hiểu những nguồn lợi Pháp thu được ở VN
?Dựa vào lược đồ H.27, để trình bày chương trình khai thác Việt Nam lần thứ hai của thực dân Pháp tập trung vào những nguồn lợi nào?
Như vậy, bằng cách đặt câu hỏi cho HS trả lời, tổ chức HS thảo luận nhóm, hướng dẫn HS khai thác từ kênh hình kết hợp với sự chỉ dẫn bằng lời, GV đã dạy cho HS những kiến thức lịch sử trên cơ sở vốn kiến thức đã có của các em.
Vốn kiến thức lịch sử của HS được tích lũy nhờ quá trình học tập, quá trình tiếp xúc với thế giới xung quanh, nhờ sự trao đổi, học hỏi bạn bè. Thực hiện khai thác vốn kiến thức sẵn có của HS để dạy HS là thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học tích cực. Dưới sự hướng dẫn của GV, những kiến thức đã có của các em được khai thác, chắp nối trong mối liên hệ giữa kiến thức mới và kiến thức cũ, qua đó HS xác lập được mối liên hệ giữa những điều đã biết và những điều cần biết, làm như vậy khiến bài học phong phú và sinh động hơn.
**************************
Đinh Thị Bích Nga @ 21:33 03/05/2009
Số lượt xem: 389

















Các ý kiến mới nhất